
Trang
blog này được lập bởi chủ Quán BỌT TRÁI
CÂY với mục đích chia sẻ tài liệu về công nghệ thực phẩm
cho các bạn cùng khoa cũng như các anh, chị, em và các bạn yêu thích, quan tâm
hay tìm kiếm tài liệu về công nghệ thực phẩm.
NẾU
THẤY TÀI LIỆU CÓ ÍCH, MỜI CÁC
BẠN ĐẾN VÀ ỦNG HỘ QUÁN BỌT TRÁI CÂY ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ THÊM KINH PHÍ DUY TRÌ HOẠT
ĐỘNG ĐĂNG TẢI TÀI LIỆU CHO MỌI NGƯỜI!
XIN CHÂN THÀNH CẢM
ƠN!
Quán Bọt Trái
Cây
Địa chỉ: 88/955E Lê Đức Thọ,
P.6, Gò Vấp,
TP.HCM
Hotline:
0935.355.169
Mail: bottraicay@gmail.com
Facebook: http://facebook/bottraicay
Web: http://bottraicay.blogspot.com/
Xem bản đồ đường đi clik vào
đây
“Muôn đời mắm vẫn đưa
hương
Còn thương mùi mắm, còn thương giống
nòi”
Có thể nói nước ta đâu đâu
cũng thấy biển, vì thế thực phẩm biển đi vào đời sống hằng ngày và người ta có
những thói quen, những tập quán liên hệ với
biển.
Món mắm của người
Việt Nam có
từ bao giờ? Phải nói là mắm có từ rất xa xưa thời các vua chúa Triều Nguyễn và
đã đi cùng với lịch sử dân
tộc.
Từ đèo Ngang trở vào, chủng
loại mắm phong phú với nhiều loại cá biển, cá đồng thông dụng như: chuồn, thu,
nục, trèn, lóc, linh, sặc…. Miệt Quảng Ngãi, Bình Định, U Minh, Cà Mau, Đồng
Tháp còn có “Mắm ruột” được làm từ lòng cá và trứng cá. Cầu kỳ hơn có “Mắm sò Ô
Loan” (Phú Yên). Ở phía Bắc phổ biến có mắm tép, mắm tôm, mắm cáy, mắm rươi,….
Đặc biệt, thành phố mắm Châu Đốc với 24 loại mắm cá nước ngọt, nước
lợ…
Có thể nói Mắm là cội nguồn
văn hóa dân tộc Việt Nam .
Mắm thể hiện được khẩu vị, tập quán, cách ăn, cách sống của người
Việt.
Việt Nam là
một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió mùa. Lãnh thổ
Việt Nam được
chia ra ba miền rõ rệt: Bắc, Trung , Nam .
Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc
điểm riêng của ẩm thực từng vùng - miền. Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng
riêng. Điều đó góp phần làm ẩm thực
Việt Nam phong
phú, đa
dạng.
I. MẮM TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI
MIỀN NAM
A. Ẩm thực miền Nam
Ẩm thực
miền Nam là
nơi chịu ảnh hưởng nhiều của ẩm thực Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, có đặc
điểm là thường gia thêm đường và hay sử dụng sữa dừa (nước cốt và nước dão của
dừa).
Nền ẩm thực này cũng sản
sinh ra vô số loại mắm khô (như mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía ...). Ẩm
thực miền Nam cũng
dùng nhiều đồ hải sản nước mặn và nước lợ hơn miền Bắc (các loại cá, tôm, cua,
ốc biển), và rất đặc biệt với những món ăn dân dã, đặc thù của một thời đi mở
cõi.
Ẩm
thực Nam bộ
thể hiện phong cách giản dị, hoang dã, rất hào phóng như con
người Nam bộ.
B. Các loại mắm đặc sản miền
Nam
- Mắm cá
lóc
- Mắm ba
khía
- Mắm cá
linh
- Mắm cá
trèn
- Mắm
còng
- Mắm thái Châu Đốc
1. Mắm cá linh

Như một sự sắp đặt kì diệu
của thiên nhiên, mỗi khi nước lũ tràn về trắng xóa đồng bằng sông Cửu Long
(khoảng tháng 7 – 10 Âm lịch) và mùa cá linh bắt đầu. Con cá linh dân dã, bình
dị đã giúp nhiều người dân nơi đây vượt qua cơn túng ngặt trong những ngày “
sống chung với
lũ”.
Phân lượng cá và phụ gia: 10
phần cá + 2 phần muối + 0.40 phần thính + 0.60 phần đường. Thí dụ: làm 5kg cá
thì cần 1kg muối hột + 200g thính gạo đỏ + 300g đường thẻ nấu thành
mật.
Lưu ý: Loại thính dùng làm
mắm cá linh là gạo đỏ hay còn gọi là gạo lức… sẽ cho ra thính có màu đỏ dùng ướp
cá sẽ thơm hơn và làm cho con mắm có sắc đỏ
bầm.
Mắm cá linh sau khi chín thì không chế biến gì
nhiều, chỉ cần gắp mắm ra chén cho thêm vào ít tỏi ớt giã nhuyễn vừa đủ dậy mùi,
chút đường, vài giọt chanh… trộn đều là có thể dùng ăn kèm rau sống, thịt heo
luộc, rau sống, chuối khế.
2. Mắm ba khía
Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía, hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi
Ba khía món ăn hấp dẫn của người dân Cà Mau từ khi nó chưa trở thành đặc sản.
Tháng mười ba khía, hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi
Ba khía món ăn hấp dẫn của người dân Cà Mau từ khi nó chưa trở thành đặc sản.
Ba khía bắt về rửa sạch bùn
đất, thả từng “trự” vào nồi, lu có chứa sẵn nước muối. Độ mặn của nước muối
quyết định chất lượng của ba khía này, lạt quá ba khía hư, mặn quá ba khía sẽ
rụng càng, đen da, chát thịt. Ba khía làm “tới” để cả năm không hư, ăn vẫn
ngon.
Ba khía sau khi được bẻ
ngoe tách mai ra, càng, chân, yếm ra từng. Cho tỏi, ớt, khóm (hoặc nước cốt
chanh) bằm nhuyễn, trộn đều với ba khía, thêm đường cho vừa khẩu
vị.
Còn gì thú vị cho bằng trong
khung cảnh trưa hè êm ả, bữa cơm đạm bạc dọn lên có thêm món mắm ba khía, với vị
ngọt mặn lẫn mùi thơm đặc trưng… Mắm ba khía ăn với cơm nóng thì thật là
tuyệt!
3. Mắm thái Châu
Đốc
Nguyên liệu và cách
làm
Mắm thái được làm từ cá lóc,
cá bông tươi, đường, thính (gạo rang vàng giã nhuyễn) và đu đủ thái
sợi.
Cá lóc, cá bông làm mắm phải
được chọn cá to mập, trắng và chế biến ngay khi cá còn sống. Sau đó muối cá
khoảng 15 ngày cho thịt cá săn chắc rồi mới đem cá ra cắt bỏ da, xương, dùng nạc
cá làm mắm. Tiếp tục trộn nạc cá với thính và ủ trong vòng 3 tháng để cá đượm
mùi thơm thính rồi mới tiến hành chao
mắm.
Để mắm thơm ngon
phải dùng đường thốt nốt và pha thêm đường cát trắng để mắm vừa thơm ngon, vừa
có màu đỏ tươi thật hấp dẫn. Phần đu đủ phải được muối trước cả tháng rồi đem ép
nước, phơi khô thái sợi mới trộn cùng đường và
mắm.
Mắm thái chính là món dễ ăn
nhất và hấp dẫn nhất, vì cách ăn khá đơn giản. Chỉ cần vài trăm gram mắm thái,
bún, thịt ba rọi luộc, rau sống và bánh tráng là chúng ta có thể ăn ngay mà
không phải chế biến gì
cả.
Hàng trăm năm trôi qua, món
ăn dân dã này đã đi vào bữa cơm hàng ngày không chỉ đối với người dân Châu Đốc,
vùng Nam bộ mà còn vươn xa hơn trên khắp mọi miền đất nước mang theo cả cái hồn
của xứ sở đồng quê sông
nước.
Ngày nay những ai về Châu
Đốc sẽ có dịp tận mắt chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của món ăn này, không chỉ
dừng lại ở chỗ làm mắm để dành dùng trong gia đình mà nó đã trở thành mặt hàng
đặc sản nổi tiếng được kinh doanh rộng khắp vùng đất
này.
Sự phát triển và ngày càng
khẳng định thương hiệu của mỗi cơ sở sản xuất mắm đã thể hiện một cách tích cực
và thiết thực nhất việc giữ gìn và phát triển một giá trị văn hoá truyền thống
của vùng đất miệt vườn Nam
Bộ.
4. Mắm
còng

“ Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn
còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua
Đói thì bắt cáy bắt còng
Thờ chồng vẹn đạo tam tòng là hơn”
Thờ chồng vẹn đạo tam tòng là hơn”
Mắm còng là đặc sản của vùng
Giồng Trôm - Ba Tri (Bến Tre). Cứ đến mồng 5 tháng 5 (Tết Đoan Ngọ) thì còng
lột. Chúng bò lên khỏi hang, nằm trên mặt bùn để từ từ lột xác. Cứ đến khoảng 1
hay 2 giờ chiều thì chúng lột xong, hất vỏ ra ngoài, phơi tấm thân mềm mụp dưới
ánh sáng và hấp thu không khí để đến chiều tối thì vỏ chúng cứng lại rồi bò trở
xuống
hang.
Nhưng còng lột ít khi thoát
được vì ngay trên bờ rạch, bờ ruộng biết bao người đang chờ lượm. Bắt xong,
người ta đem rửa sạch chúng rồi đem về đổ vào khạp có sẵn nước muối hoặc cứ một
lớp còng, một lớp muối mỏng, xong ở trên cùng còn bỏ một nắm ớt hiểm, giống ớt
nhỏ trái mà rất cay rồi mới đậy nắp lại, lấy bùn trét quanh kẽ hở và cứ để ngoài
trời. Từ ba tuần đến một tháng là mắm còng chín, người ta khui ra cho vào keo,
lọ đem biếu bà
con.
Mắm còng được ăn với thịt
luộc, cá nướng và rau thơm, thường kèm theo vài ly rượu đế. Mắm còng là đặc sản
quý hiếm nên từ xa xưa ở Bến Tre đã có
câu:
Thương em muốn tặng mắm
còng
Nhớ em muốn đến Mỹ Lồng thăm
em
Trách ai duyên nợ xe
lầm
Còng lột anh bắt mồng năm làm
gì?
II. MẮM TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI MIỀN
TRUNG
A. Ẩm thực miền
Trung
Đồ ăn miền Trung với tất cả
tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hương vị riêng biệt, nhiều món ăn cay hơn
đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về
màu đỏ và nâu
sậm.
Các tỉnh thành miền Trung
như Huế, Đà Nẵng, Bình Định rất nổi tiếng với mắm tôm chua
và các loại mắm ruốc. Đặc biệt, do ảnh hưởng từ phong cách ẩm thực hoàng gia, ẩm
thực Huế không chỉ rất cay, nhiều màu sắc mà còn chú trọng vào số lượng các món
ăn, tuy mỗi món chỉ được bày một ít trên đĩa
nhỏ.
B. Các loại mắm đặc sản miền
Trung
- Mắm
tôm
- Mắm
tép
- Mắm
ruốc
- Mắm
nêm
1. Mắm tôm chà

Nghề làm mắm tôm chà xuất
hiện từ đầu thế kỷ 19. Lúc sinh thời, bà hoàng Từ Dũ cùng gia đình đã chế biến
và giới thiệu món này cho triều đình nhà Nguyễn. Bà Từ Dũ - nhủ danh Phạm Thị
Hằng - con gái của Quốc sử quán Tổng tài Phạm Đăng Hưng được tiến cung năm 1824
và sau đó đã trở thành đức Thái hậu Từ Dũ, vợ của vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự
Đức.
Do hương vị đặc trưng từ Gò
Công của Hoàng thái hậu mà được triều đình Huế thường dùng để tiếp đãi khách
trong các buổi yến tiệc, những dịp lễ lạc. Món mắm tôm chà đã chào đời vào
khoảng 200
năm.
Mắm tôm chà khi biến chế
người ta dùng tôm đất hay tôm bạc thẻ ở sông, hay có thể thế bằng tôm sú (tôm
vùng biển) miễn còn tươi, nếu còn sống càng tốt, cho vào thau ngâm với rượu đế
khử mùi tanh chừng 5 - 7 phút. Sau đó vớt ra để ráo rồi bỏ vào máy xay thật
nhuyễn, sau đó đem chà trên ray có lỗ thật nhỏ để chắc lấy nước, phần vỏ và thịt
được bỏ
đi.
Nước tinh chất của tôm được
đệm thêm vào đường, muối, ớt bột, tỏi rồi đem phơi ít nhất một tuần dưới ánh
nắng để cho sản phẩm đặc kẹo lại mới dùng được. Thông thường thì cứ ba ký tôm
mới làm ra được 1 ký mắm tôm chà mịn màng thơm
dịu.
Mắm tôm chà có thể dùng
nguyên chất hoặc có thể pha thêm tỏi, ớt băm nhuyễn, đường, chanh tùy khẩu vị và
được dùng với bún, thịt luộc, rau sống, khế, dưa leo, chuối chát, xoài sống thái
lát. Khi ăn quệt thịt, soài lát vào hỗn hợp mắm tôm cùng bún và
rau.
2. Mắm ruốc
Ở nơi nào có biển, bà con có
làm nghề chài lưới thì có ruốc, và hễ có ruốc là có thể có mắm
ruốc.
Từ lâu thói quen phải có
ruốc làm gia vị trong một số món ăn mới trở nên hấp dẫn và không thể thiếu…. Mắm
ruốc có nhiều ở Vũng Tàu, Huế. Mắm với người dân xứ Huế là một phần không thể
thiếu trong bữa cơm gia
đình.
Mắm ruốc là mắm làm từ con
ruốc, một loại con tép riu, màu đỏ nâu, đặc mịn, thơm mùi mắm. Tầm khoảng tháng
Giêng đến tháng Tư Âm lịch, khi mùa ruốc về, người ta lại làm mắm ruốc. Ruốc sau
khi rửa phải được xốc đều trên chảo với muối hạt. Mắm ngon không những phải có
mùi thơm nhẹ, vị vừa phải, không quá mặn, mà còn phải có màu đỏ
hồng.
Tuy mắm ruốc trông giống
mắm tôm, nhưng màu sắc và mùi vị không giống mắm tôm. Mắm ruốc không tanh bằng
mắm tôm, có thể pha thêm nước, chanh, đường, tỏi, ớt khi làm nước chấm và có thể
dùng làm gia vị xào hay nấu, như mắm ruốc xào thịt ba rọi với sả
ớt.
Ngoài ra, món ăn này còn ăn
kèm được với bún, bánh đa hoặc chấm rau, củ quả
luộc….
3. Mắm Nêm
Mắm nêm, còn gọi là mắm cái,
là một dạng sản phẩm lên men làm từ
cá.
Cá được ướp muối, lên men,
có thể được tách xương hoặc không, rồi phối trộn với một số loại phụ liệu như:
thính, thơm (khóm),
đường...
Mắm nêm thường có hai dạng:
dạng nguyên con (cá cơm, cá sơn đỏ...) và dạng xay nhuyễn (cá trích, cá nục, cá
liệt...
).
Những món ăn có kèm theo mắm
nêm được nhiều người ưa thích. Đó là: bánh hỏi, thịt luộc chấm mắm nêm (chanh,
ớt), lòng heo mắm nêm, bánh ướt mắm nêm, bánh tráng cuốn rau sống, thịt luộc
chấm mắm nêm, thịt đầu heo luộc chắm mắm nêm, rau lang luộc, bông bí, đọt bí
luộc chấm mắm nêm, bánh đúc, bánh bèo (miền Trung) chấm mắm
nêm...
Mắm nêm là món ăn địa phương
độc đáo không thể thiếu trong mọi gia đình, nhất là bà con ven biển miền Trung.
Cá sử dụng để muối mắm nêm vẫn là cá
cơm.
Cá cơm mua về được đổ vào
thau lớn, trộn đều muối. Thường thì chỉ hai cá một muối, hoặc một lớp cá một lớp
muối. Mặn lạt tùy người có kinh nghiệm và tay nghề khá. Mắm nêm để dành ăn lâu
thì muối mặn hơn. Xóc cá cho muối thấm vào cá được đều rồi đổ vào hủ, chai. Mắm
nêm muối khoảng ba tháng thì “chín” dùng
được.
Mắm nêm - Món ăn địa phương
có nét đặc thù độc đáo. Trong các thức ăn tuy đơn sơ giản dị, nhưng khách đã một
lần dùng qua chắc chắn nhớ mãi “mắm
nêm”.
III. MẮM TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI MIỀN
BẮC
A. Ẩm thực miền
Bắc
Ẩm thực miền Bắc thường
không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng khác, chủ yếu sử dụng nước mắm
loãng, mắm tôm. Sử dụng nhiều món rau và các loại thủy sản nước ngọt dễ kiếm như
tôm, cua, cá, trai,
hến….
Do truyền thống xa xưa có
nền nông nghiệp nghèo nàn, ẩm thực miền Bắc trước kia ít thịnh hành các món ăn
với nguyên liệu chính là thịt,
cá.
Ẩm thực Hà Nội một thời - Đại diện tiêu biểu
nhất của tinh hoa ẩm thực miền Bắc Việt Nam với những món phở, bún thang, bún
chả, các món quà như: cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì… và gia vị đặc sắc như:
tinh dầu cà cuống, rau húng
Láng.
Ẩm thực miền Bắc thể hiện sự
tinh tế, thanh cảnh, chú trọng tính chuẩn mực, nghi lễ trong bữa
ăn.
B.Các loại mắm đặc sản miền
bắc
- Mắm
tôm
- Mắm
tép
- Mắm cá ruộng
1. Mắm Tôm
(Bắc)
Mắm Tôm - Bắc màu xám tim
tím, hương vị thật nồng nàn. Mắm tôm – Bắc khi chế biến có thể sử dụng tôm, tép
hoắc con ruốc nhưng chủ yếu vẫn là con ruốc vì con ruốc đánh bắt được nhiều hơn,
độ đạm cũng khá
cao.
Sau đó đem xay ra hoặc chà
nát, đối với tôm to phải tách bỏ vỏ. Trộn muối vừa đủ sao cho emzyme trong ruột
tôm hoạt động được mà vi khuẩn phân hủy khác không hoạt động
được.
Cho vào dụng cụ chứa, phơi
nắng, khuấy đảo để bay bớt hơi nước phát sinh trong quá trình lên men. Sau 6
tháng đến một năm khi mắm tôm có màu và hương vị đặc trưng như đã nêu trên là
mắm có thể sử dụng
được.
Người miền Bắc dùng món mắm
tôm trong đại đa số các món ăn, tạo nên hương vị đặc trưng của một số món ăn Bắc
và vị mắm tôm khi nêm vào các món ăn này chính là cái hồn trong các món ăn. Nhất
là có những món ăn: bún thang, bún mọc, bún riêu, bún ốc… nếu không có mắm tôm
nếm vào sẽ mất đi cảm nhận vị ngon đến
40-50%.
Ngoài việc dùng mắm tôm
trong các loại bún nóng (bún mọc, bún thang, bún riêu cua, canh bún...), người
dân xứ Bắc dùng mắm tôm khi ăn bún lạnh: kẹp miếng tàu hủ chiên giòn với ít bún
và rau kinh giới, Món chả cá Lã Vọng nổi tiếng Hà Nội nếu không có mắm tôm nêm
vào sẽ không còn là chả cá Lã Vọng nức danh
nữa…
Mắm tôm làm món chấm ăn cơm
phải đúng điệu: vắt vào ít chanh, thêm vào ít ớt, ít đường, dùng đủa đánh lên
cho sủi bọt, ăn chấm thịt luộc hay tàu hủ chiên, kèm với ít rau kinh giới (hay
tía tô), ăn mắc ghiền. Gặp buổi bận rộn, chỉ cần ăn cơm với vài trái cà pháo
muối chua chấm mắm tôm, thêm một tô nước rau muống vắt chanh làm canh hoặc tô
canh cà chua nấu với tôm khô cũng đủ ngon
miệng.
2. Mắm cá ruộng
Để làm ra một hũ mắm cá đòi
hỏi khá công phu, phải mất 3 tháng nuôi cá ở ruộng và 10 tháng ủ men làm mắm,
nhưng bù lại hương thơm tuyệt hảo của nó thì vị khách khó tính nhất cũng khó có
thể cưỡng
lại.
Theo bí quyết mà các cụ già truyền lại thì để làm món ăn này phải chọn đúng loại cá chép nuôi ở ruộng, to chừng khoảng hai ngón tay, mổ moi ruột sạch sẽ, để ráo nước. Khâu mổ cá phải thật khéo, không được làm vỡ mật cá, nếu không mắm sẽ có vị đắng. Tiếp đó đem cá đã làm sạch xát muối, giềng, hành thái lát mỏng trộn đều rồi đổ vào hũ.
Trong thời gian ủ cá thì đồ
xôi nếp, rắc men lên rồi đậy kín. Cuối cùng là hái lá cơm đỏ, lá trầu không về
thái chỉ, trộn đều với cá và xôi nếp đã lên men. Sau đó đem đổ vào hũ, bịt thật
kín,10 tháng sau mở hũ mắm ra là dùng
được.
Món mắm ngon phải có màu đỏ tía, dậy mùi thơm nức, không có mùi tanh, hôi. Trải qua 10 tháng ủ trong hỗn hợp, cá phải chín cả thịt lẫn xương mới đạt yêu cầu.
Mắm cá ruộng có rất nhiều cách thưởng thức.
Ngoài dùng để chấm các loại thịt luộc, rau luộc, rau sống. Mắm cá ruộng còn là
vị thuốc giải rượu, giải độc rất tốt. Thường sau khi ăn gần hết hũ mắm, để lại
một ít để phòng trong nhà có người bị say rượu, trúng gió hay bị ngộ độc nhẹ.
Chỉ cần múc ngay một ít mắm cho người đó uống, sẽ giảm nhanh các triệu chứng khó
chịu.
Mắm cá ruộng không chỉ là món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc Tày Chiêm Hóa mà giờ đã trở thành thương hiệu được du khách trăm miền biết đến. Bởi hương vị đặc trưng của thứ đặc sản này khiến cho ai đã từng một lần thưởng thức sẽ không khỏi ngạc nhiên, thích thú để rồi ngây ngất, khó quên!
0 nhận xét:
Đăng nhận xét