QUY TRÌNH SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN/ PHẦN 3


Trang blog này được lập bởi chủ Quán BỌT TRÁI CÂY với mục đích chia sẻ tài liệu về công nghệ thực phẩm cho các bạn cùng khoa cũng như các anh, chị, em và các bạn yêu thích, quan tâm hay tìm kiếm tài liệu về công nghệ thực phẩm
.

NẾU THẤY TÀI LIỆU CÓ ÍCH, MỜI CÁC BẠN ĐẾN VÀ ỦNG HỘ QUÁN BỌT TRÁI CÂY ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ THÊM KINH PHÍ DUY TRÌ HOẠT ĐỘNG ĐĂNG TẢI TÀI LIỆU CHO MỌI NGƯỜI!
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

            Quán Bọt Trái Cây
Địa chỉ: 88/955E Lê Đức Thọ, P.6, Gò Vấp, TP.HCM
Hotline: 0935.355.169
Mail: bottraicay@gmail.com
Web: http://bottraicay.blogspot.com/



Xem bản đồ đường đi clik vào đây

Chương II
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN

I.       QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ 1







II.       THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ
1.      Trộn bột
Mục đích: Đây là một khâu quan trọng của quá trình sản xuất mì ăn liền. Mục đích của quá trình nhào bột là để tạo khối bột nhào có độ đồng nhất, độ dẻo, độ ẩm cần thiết chuẩn bị cho khâu cán bột được diễn ra một cách thuận lợiPhân phối nước, gia vị và phụ gia đồng đều trong khối bột nhào nhằm tăng chất lượng sản phẩm và tăng giá trị cảm quan.
Yêu cầu của khối bột sau khi nhào:
·         Bột sau khi trộn phải dẻo, dai.
·         Bề mặt tơi xốp.
·         Đạt độ đồng đều, không vón cục lớn.
·         Không quá khô hoặc quá ướt.
·         Khi nắm bột trên tay, buông ra bột không bị rời rạc.
·         Bột có độ dẻo mềm nhưng không dính tay.
·         Bột có màu vàng, vàng nhạt hay trắng ngà tùy theo mục đích sản xuất.
·         Độ ẩm từ 32 – 34%.
1.1. Chuẩn bị soup trộn
Soup trộn được pha trộn theo tỷ lệ định trước, thành phần của soup trộn bột bao gồm muối ăn, đường, bột ngọt, nước tro, màu thực phẩm, hương liệu và phụ gia tạo cấu trúc. Các thành phần trên được hoà tan bằng nước trong thùng có cánh khuấy, sau đó nước đượcbơm lên bồn định mức.
Thực tế hiện nay bột được Công ty sử dụng đều có chất lượng tốt, bao bì định lượng sẵn nên có thể bỏ qua thao tác sang loại tạp chất cho bột mì. Bột mì trước khi trộn được kiểm tra cảm quan về màu sắc, mùi và có sâu mọt, nấm mốc. Nếu có hiện tượng hư hại sẽ bị loại bỏ để không ảnh hưỡng đến chất lượng sản phẩm. Bột mì phải để gần cối trộn nhằm thuận tiện cho việc thao tác.
Khối bột sau khi nhào có độ ẩm từ 32 – 34%. Khối lượng nước soup trộn cho mỗi cối bột dao động trong khoảng 90 – 96 lít tùy theo loại mì. Thời gian phối trộn cho một cối bột là 20 – 21  phút, thời gian trộn bột khô là 4 phút để trộn đều hỗn hợp bột nhào. Tùy theo nhu cầu của từng loại mì mà ta có công thức pha trộn khác nhau giữa các loại bột. Sau đây là công thức pha trộn bột của Công ty

Bảng 3.2 Công thức phối trộn bột nhào theo khối lượng (kg)

Bột mì
Khoai tây
Khoai mì
Gạo

Soup trộn
Loại I
Loại II
Loại III
 Kiếng đặc biệt
160
120
-
5
10
-
90
 Kiếng I
80
200
-
-
18
5
90
 Kiếng II, III, kraft
-
120
160
-
15
5
90
 Mí ký, lẩu
-
40
240
-
20
-
90


Bảng 3.3 Công thức phối trộn bột nhào theo % khối lượng

Bột mì 
Khoai tây
Khoai mì
Gạo

Soup trộn
Loại I
Loại II
Loại III
 Kiếng đặc biệt
41,6
31,2
-
1,3
2,6
-
23,3
 Kiếng I
20,5
51,4
-
-
3,8
1,3
23
 Kiếng II, III, kraft
-
30,9
41
-
3,8
1,3
23
 Mí ký, lẩu
-
10,3
61,5
-
5,1
-
23

Thành phần các chất trong soup trộn được tính theo khối lượng bột (100%):
·         Muối ăn:          1 – 2%.
·         Nước:              26 – 30%.
·         CMC:              0,05 – 0,1%.
·         Bột màu:         0,02%.
·         Nước tro:        0,01 – 0,1%.
·         Gia vị:             Tùy theo loại mì.
1.2. Các biến đổi trong quá trình trộn bột
Khi nhào bột, Những cấu tử rời rạc liên kết với nhau tạo khối đồng nhất, khối lượng riêng, độ nhớt hỗn hợp thay đổi. Protein hút nước tạo trạng thái dẻo, hạt tinh bột trương nở.
Bột mì nếu đủ lượng nước thì gliadin và glutenin sẽ hấp thụ nước và tương tác với nhau và với các thành phần khác trong khối bột nhào tạo ra những sợi chỉ  và màng (mạng gluten)  dính các hạt tinh bột thấm nước lại với nhau tạo thành hệ keo. Ở nhiệt độ thấp mạng gluten được hình thành chặt và mạnh hơn còn khi nhiệt đô bột nhào cao thì bột trương nhanh và vụn nát tạo khó khăn cho quá trình cán.
Các phần phân tử thấp của gluten dễ dàng chịu tác dụng phân tán của nước và một phần peptit hoá kết quả tạo ra áp suất thẩm thấu bên trong gluten, áp suất này làm cho nước khuếch tán vào trong gluten, sự khuếch tán đó có kèm theo sự tăng thể tích.
Khi bột mì gặp nước thì quá trình hydrat hóa bắt đầu diễn ra. Ở trong khoảng nhiệt độ từ 25– 40oC thì sự hydrat hóa xảy ra yếu do có sự hydrat hóa gluten. Sự hydrat hóa tinh bột trong khoảng nhiệt độ này hầu như không thay đổi. Ở nhiệt độ 60 oC  thì sự hydrat hóa bột do hydrat hóa tinh bột tăng khá lớn trong khi sự hydrat hóa gluten giảm. Như vậy sự trương nở của bột ở nhiệt độ thấp phần lớn là nhờ sự trương nở thẩm thấu của gluten còn ở nhiệt độ cao hơn là nhờ sự liên kết thẩm thấu của dung môi với tinh bột.
Tinh bột có trong bột mì khoảng 70%, ở nhiệt độ 30oC nó hấp thụ đến 30% nước nhờ hoạt tính của các nhóm háo nước.
Dưới tác dụng của các hệ enzyme amylase, protease, lipase sẽ làm thủy phân tinh bột, protein, và lipit thành các phần tử đơn giản hơn.
Ngoài ra, khi trộn bột có một lượng không khí lẫn vào trong khối bột nhào làm cho khối gluten khó trương nở hơn. Lượng không khí càng nhiều thì tấm bột sẽ dễ đứt khi cán.
1.3. Các yếu tố ảnh hưỡng đến quá trình trộn bột
Bột mì: Hàm lượng và chất lượng gluten của bột có ảnh hưởng lớn đến độ dai, độ đàn hồi, của khối bột. hàm lượng gluten càng lớn thì bột càng dai và ngực lại. Độ ẩm bột càng thấp thì khả năng hút nước càng cao. Bột càng thô khả năng hút nước càng thấp vì diện tích bề mặt riêng của nó bé nên lượng nước liên kết với bột thấp. Bột thô có tốc độ trương nở protit chậm hơn bột mịn. bột hạng càng cao thì khả năng giữ nước càng thấp do lượng khoáng thấp.
Tinh bột làm cho bột nhào dẻo, sản phẩm ướt và tơi tốt. Trong quá trình gia nhiệt cao, nó tạo ra trên bề mặt sản phẩm chất dextrin, ở trạng thái thiếu nước dextrin làm cho bề mặt sản phẩm bóng.
Đường: có ảnh hưởng đến tính chất lý học của bột nhào. Đường làm cho bột nhào trở nên mềm nhớt. Đường làm giảm sự trương nở protit, tùy theo nồng độ của đường mà tốc độ trương nở của protit khác nhau. Kích thước của tinh thể đường có ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.. Hàm lượng gluten giảm khi tăng lượng đường saccaroza. Khả năng hút nước của bột giảm khi tăng lượng đường saccaroza.
Chất béo: khi tăng lượng chất béo thì bột nhào sẽ tơi, dẻo. Tạo màng trên bề mặt protit làm chậm sự thấm nước vào bên trong protit. Chất béo cho vào bột nhào sẽ tạo một màng mỏng có tác dụng bao trùm và bôi trơn các hạt bột, do đó giữ được lượng không khí trong bột nhào làm cho sản phẩm xốp. Chất béo làm giảm tính đàn hồi của gluten vì trên bề mặt các misen có hấp phụ một màng mỏng chất béo làm yếu liên kết giữa các misen với nhau. Ảnh hưởng của chất béo tốt hay xấu đến chất lượng sản phẩm còn tùy thuộc vào độ phân tán của chúng trong bột nhào. Phương pháp tốt nhất để phân tán chất béo vào bột nhào là phương pháp nhũ hóa và tất cả các dạng chất nhũ hóa đều có tác dụng giảm độ nhớt và tăng độ dẻo bột nhào.
Muối ăn: khi thêm muối ăn vào bột nhào, muối sẽ phân ly thành các ion, các ion này sẽ  làm tăng hằng số điện môi của nước, làm giảm độ dày và điện tích của lớp ion kép bao quanh các phân tử protein. Các phân tử protein sẽ tiến đến gần nhau hình thành các tương tác ưa nước và kỵ nước tạo nên những phân tử protein có khối lượng phân tử lớn làm tăng độ chặt của mạng gluten.
Nước: khối lượng, chất lượng và nhiệt độ của nước sẽ ảnh hưởng tới quá trình nhào. Nước cứng hay có độ acid cao, nước nhiễm phèn hay nhiễm sắt sẽ đều có tác động đến bột nhào.
Độ ẩm bột nhào: trong sản xuất cần theo dõi độ ẩm bột nhào. Độ ẩm quá cao sẽ có ảnh hưởng xấu đến các giai đoạn gia công tiếp còn độ ẩm thấp thì gây khó khăn trong khâu tạo hình.
Nhiệt độ: ảnh hưởng tới trương nở và tính chất vật lý của bột nhào, giới hạn này đạt nhanh nhất ở 40oC. Vì ở nhiệt độ này gluten trương nở triệt để nhất. Để đạt tới nhiệt độ thích hợp cho bột nhào ta cần chú ý hàng loạt yếu tố có ảnh hưởng tới nhiệt độ. Gồm nhiệt độ ban đầu của nguyên liệu và nhiệt độ sinh ra do ma sát hay do các phản ứng hoá học, do quá trình hoà tan… Nhiệt  độ của bột nhào nên điều chỉnh bằng cách nấu nóng hoặc làm lạnh nguyên liệu dạng nước trước khi cho vào máy trộn.
Thời gian nhào kết thúc khi khối bột nhào đạt các yêu cầu về sự đồng đều và khả năng tạo mạng gluten. Nhào càng lâu thì khả năng giữ nước của gluten sẽ giảm, vì protit bị biến tính dưới tác dụng cơ học. Nếu hàm lượng gluten thấp thì đòi hỏi thời gian nhào nhiều hơn để gluten trương nở hoàn toàn. Nếu hàm lượng gluten trung bình thì thời gian tạo thành bột nhào bé hơn, vì sự trương nở của gluten đã đủ mức để tạo thành bột nhào.
Cường độ khuấy trộn: tăng số vòng của cánh khuấy trong máy nhào thì thời gian sẽ rút ngắn. Dạng thiết bị và dạng  cánh khuấy cũng ảnh hưỡng lớn đối với quá trình nhào trộn bột.

1.      Cán
Mục đích: Cán bột là để nhồi ép bột ướt thành những tấm bột mỏng, mịn, có kích thước theo yêu cầu. Quá trình cán làm tăng độ đồng nhất cho khối bột, tạo những lá bột chắc dai, tạo điều kiện tốt cho các công đọan sau: cắt sợi, hấp, chiên… Ngoài ra cán bột còn có tác dụng loại hết lỗ xốp không khí làm tăng độ dai của mì.
Quá trình cán bột được thực hiện qua 3 giai đoạn: cán thô, cán bán tinh và cán tinh. Tại các giai đoạn tấm bột cán sẽ có kích thước thay đổi theo thứ tự từ dày cho đến mỏng.
Yêu cầu đối với quá trình cán:
·         Tạo thành những lá bột mỏng có kích thước phù hợp qua từng lô cán.
·         Tăng độ đồng nhất cho khối bột, tạo những lá bột chắc dai và đàn hồi.
·         Lá bột mịn, mềm, không rách mép.
·         Bề mặt nhẵn, bóng láng.
·         Màu sắc trắng đều hoặc vàng đều , không bị lốm đốm.
·         Trên bề mặt không có dấu vết do cán cắt không tốt gây ra.
·         Độ dày lá bột qua từng lô cán phải giảm dần và độ dày lá bột cuối cùng bằng độ dày sợi mì 0,8 mm.
Độ dai lá bột phụ thuộc vào: tỷ số ép, áp lực trục cán, hàm lượng các muối có trong bột nhào, độ ẩm và độ xốp ban đầu của bột nhào.
2.1. Các biến đổi trong quá trình cán
Biến đổi vật lý
Giảm độ xốp của khối bột do đuổi được một phần không khí và giảm lượng nước tự do, tỷ trọng của lá bột tăngTăng sự kết dính giữa các phần tử làm khối bột dai và đàn hồi hơn. Tạo hình tấm cho khối bột. Các lá bột sau khi qua các trục cán sẽ mỏng và dài ra. Các phân tử lớn như protein, tinh bột có khuynh hướng định hướng dọc theo trục ép, làm tăng độ dai theo phương ngang. Nhiệt độ lá bột tăng nhẹ.
Biến đổi hoá học
Dưới tác dụng của áp lực cao, khí bị nén lại quá mức sẽ có khuynh hướng bị giải phóng khỏi tấm bột, phá vỡ một số liên kết giữa các phân tử trong tấm bột. Đồng thời  năng lượng sinh ra do lực ép sẽ làm các đại phân tử liên kết lại với nhau, giảm khoảng trống giữa các phân tử. Một số liên kết mới sẽ được hình thành dưới tác dụng của lực ép và một số mối liên kết sẽ không hình thành lại được. Do đó khối bột nhào càng nhiều khí thì càng có nhiều mối liên kết bị phá vỡ.
Các mối liên kết hydro của nước với protein và tinh bột bị bẻ phá hủy 1 phần làm cho nước bị tách ra, dẩn đến việc giảm ẩm của khối bột nhào. Một số sẽ hình thành các mối liên kết mới dưới tác dụng của lực ép, một số mối liên kết sẽ không hình thành lại được. Dưới tác dụng ép và dưới tác dụng của lực ma sát cũng sẽ làm nhiệt độ lá bột tăng lên dẫn đến biến tính của protein, giảm khả năng liên kết với nước.
Sự có mặt của muối phosphat có tác dụng giữ cho lượng nứơc tách ra khỏi các đại phân tử tồn tại trong lá bột, làm giảm độ mất nước của lá bột trong quá trình cán. Các muối vô cơ khác có tác dụng làm tăng mối liên kết tĩnh điện giữa các phân tử protein với nhau làm tăng độ dai cho mì.
Dưới tác dụng ép mạnh của trục cán, các phân tử protein và tinh bột sẽ bị ép chặt, duỗi dài theo 2 hướng. Một số liên kết như liên kết  hydro, VanderWalls cũ sẽ bị cắt đứt. Hình thành nên các mối liên kết mới theo phương thẳng đứng. Vì vậy sau lần cán đầu tiên bột có khuynh hướng kém dai hơn. Sau nhiều lần cán, dưới tác dụng của áp lực trục cán sẽ hình thành các mối liên kết mới làm tăng độ dai.
Để có thể đảm bảo các mối liên kết ít bị cắt đứt và dễ được hồi phục thì tỷ lệ chiều dày giảm cần phải nhỏ, trong khoảng 15 – 33%. Vì vậy phải cán nhiều cấp và nhiều lần.
            Các yếu tố ảnh hưỡng
Nguyên liệu: hàm lượng protein càng cao, chất lượng gluten càng mạnh thì lá mì càng ít bị rách, đứt. Độ đồng đều về kích thước của các phân tử bột, độ ẩm của bột nhào, nhiệt độ của bột nhào sẽ ảnh hưởng đến khả năng giữ nước, các mối liên kết giữa các đại phân tử với nhau. Nếu các phân tử liên kết càng chặt chẽ thì sợi mì càng đàn hồi, càng ít bị biến dạng nhưng năng lượng cần cho cán cắt sẽ cao hơn.

2.      Cắt tạo sợi
Mục đích: tạo thành sợi mì theo từng loại mì và đồng thời chia thành từng vắt tạo điều kiện thuận lợi cho các công đoạn tiếp theo.
Yêu cầu: Sợi mì cắt phải thành sợi rời nhau, đồng nhất về kích thước. Sợi mì không bị đứt, không dính cục, bề mặt sợi bóng. Dao cắt phải sắc bén, không bị mẻ, chiều sâu rãnh khoảng 3 – 3,5 mm. Các khe của dao cắt phải cách đều nhau, kích thước giữa các khe dao cắt bằng kích thước sơi mì. Không dính nhớt và lẫn tạp chất.
Các biến đổi: Ở giai đoạn này chỉ có sự thay đổi về hình dạng của sợi mì từ tấm lớn chuyển sang dạng sợi và sự gia tăng nhiệt độ do ma sát. Ngoài ra các biến đổi khác không đáng kể.
Đây là dây chuyền sản xuất mì ăn liền 6 vắt nên sau khi đi qua dao cắt các sợi mì được chia ra thành 6 dây mì đều nhau. Kích thước sợi mì tiêu chuẩn là 0.8 mm.
Trong quá trình cắt tạo sợi có xảy ra một số hiện tượng như: mì bị dính dao cắt, hay mì cắt không đều thì sẽ được thu hồi và đưa đi cán lại.

3.      Tạo bông
Mục đích: Sau khi ra khỏi dao cắt, các sợi mì di chuyển xuống băng tải đỡ mì ở bên dưới. Do tốc độ chuyển động của băng tải chậm hơn dao cắt nên các sợi mì bị đùn lại, tạo sóng, tăng giá trị cảm quan cho vắt mì, đồng thời giúp cho sợi mì sau này không bị biến dạng nhiều do giãn nở nhiệt.
Yêu cầu: các sợi mì nhúng đều, không quá giản cũng không quá khít.
Các sợi mì sau khi tạo bông nếu quá thưa, độ gợn sóng không đủ thì sẽ được công nhân canh máy thu hồi và chuyễn sang công đoạn cán. Vì dây chuyền hoạt động rất ổn định nên những trường hợp hư hỏng như thế này rất ít xảy ra.

4.      Gia ẩm
Mục đích:làm tăng hàm lượng ẩm cho các dây mì để mì dễ chín hơn trong quá trình hấp và tạo độ bóng đẹp cho bề mặt sợi mì sau hấp vì không có các lỗ khí.
Mì sau khi tạo bông sẽ được gia ẩm. Quá trình gia ẩm được thực hiện bằng cách cho những dây mì đi qua vòi phun nước với tốc độ chậm. Tại đây, vòi phun sẽ phun nước ở dạng sương lên các dây mì.
            Yêu cầu: mì thấm nước đều, độ ẩm từ 32 – 35%.
Biến đổi: Trong quá trình gia ẩm có sự trương nở của các sợi mì nhưng không lớn vì thơi gian gia ẩm rất ngắn khoảng 2 – 5 giây. Do đó các biến đổi của sợi mì ở giai đoạn này xem như không có.
Nước gia ẩm là nước sạch không pha trộn thêm bất cứ hóa chất hay nguyên phụ liệu nào.

5.      Hấp
Mục đích: Hấp là phương pháp sử dụng hơi nước cung cấp nhiệt cho sợi mì nhằm mục đích hồ hoá, làm chín và cố định cấu trúc sợi mì để giữ được nguyên hình không biến dạng, rút ngắn thời gian chiên, làm tăng hương vị cho sợi mì. Về mục đích bảo quản thì hấp có tác dụng vô hoạt enzyme và tiêu diệt vi sinh vật. Ngoài ra còn có mục đích chuẩn bị cho các giai đoạn tiếp theo như: cắt định lượng, nhúng nước lèo, vô khuôn, chiên …
Mì được hấp trong thiết bị hấp với thời gian hấp từ 2 phút cho đến 2 phút 30 giây. Độ ẩm của mỉ hấp là 34 – 36%. Áp suất tổng của buồng hấp là 3,5 MPa. Nhiệt độ hấp mì là 90 – 98oC.
Yêu cầu:
·         Sợi mì chín đều, mềm mại, có tính đàn hồi, ấn tay xuống không bết.
·         Sợi mì không được sống.
·         Sợi mì không nhão, không ướt ở mặt dưới.
·         Độ hồ hoá của tinh bột khoảng 80 – 90%.
·         Độ ẩm sau hấp khoảng 34 – 36%.
·         Phòng hấp phải đảm bảo kín.
Các biến đổi trong quá trình hấp:
Protein bị biến tính nhả nước và hình thành khung gluten vững chắc, giảm độ vữa nát của sợi mì, tăng độ dai trong nước sôi, và cố định dợn sóng. Hạt tinh bột tiếp tục hấp thu nước, trương nở và hồ hoá làm tăng độ dai cho sợi mì.
Các khí còn sót lại sẽ tăng thể tích làm sợi mì nở ra. Hơi nước từ ngoài sẽ di chuyển vào trong tâm sợi mì làm sợi mì trương nở. Dưới tác dụng của pH cao và nhiệt độ các phản ứng chuyển hoá đường khử xảy ra và dưới tác dụng pH kiềm, các flavanoid trong bột mì tách khỏi dạng phức và biến đổi tạo màu vàng. Dưới tác dụng của nhiệt độ và hơi nước lôi cuốn làm cho bay hơi loại bỏ những thành phần gây mùi sống của mì làm tăng hương vị cho sợi mì.
Phản ứng Maillard giữa acid amin và đường khử tạo màu vàng và mùi thơm cho mì. Khi nhiệt độ chưa cao quá trình thuỷ phân xảy ra 1 phần làm tăng giá trị dinh dưỡng và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cơ thể. Những biến đổi đó làm cho sản phẩm có chất lượng tốt hơn, giá trị cảm quan cao hơn.
Các loại enzyme xúc tác các quá trình phân hủy các thành phần hóa học, sinh học làm cho sản phẩm có thể bị biến màu hoặc làm giảm hàm lượng các thành phần hóa học, sinh học có ích. Khi nhiệt độ tăng cao trước hết có tác dụng làm mất hoạt tính của các loại enzyme có trong nguyên liệu, ngăn ngừa được những biến đổi xấu. Nhiệt độ cao có thể tiêu diệt vi sinh vật có trong sản phẩm thực phẩm, ngăn ngừa hư hỏng sản phẩm.
Về vật lý: Sợi mì trương nở, tăng thể tích, giảm tỷ trọng. Các bông mì sẽ giảm độ xoắn do giãn nở nhiệt. Độ dai sợi mì tăng.
Về hoá lý: Hơi nước sẽ di chuyển từ ngoài vào trong và một lượng không khí giãn nở và di chuyển ra ngoài. Protein nhả hấp phụ nước và hạt tinh bột thu nhận, trương nở và hồ hoá. Hàm ẩm của mì tăng.
Về hoá học và hoá sinh: Biến tính protein, tạo khung gluten vững chắc. Hồ hoá tinh bột, tạo mạng với khung protein tăng độ dai. Thủy phân tinh bột, protein. Phản ứng Maillard xảy ra. Độ ẩm sợi mì tăng lên so với trước khi vào buồng hấp. Tạo độ đồng nhất của sợi bột sau quá trình hấp. Lượng nhiệt hấp.
Nếu quá trình hấp sợi mì chín đều thì khi phun hay nhúng nước lèo sợi mì sẽ ngấm đều và ngược lại. Khi ra khỏi buồng hấp sợi mì  có độ ẩm thấp và nhiệt độ cao sẽ làm gia tăng độ ngấm nước lèo của sợi mì.
Mì đã qua hấp nếu có biểu hiện sống, chín không đều, sợi mì gảy, bở sẽ được thu hồi. Trước đây đối với những loại mì này sau khi thu hồi sẽ bỏ nhưng hiện nay Công ty đã tận dụng các bán thành phẩm này. Các bán thành phẩm sau khi thu hồi sẽ được cho vào các xô nhựa, mỗi xô tối đa 5kg. Sau đó cho thêm khoảng 10 lít nước soup trộn vào và ngân trong vòng 20 – 30 phút. Mì ngâm soup sẽ bị vở vụn ra sau ngâm, lúc này, lấy mì vừa ngâm cho vào các cối bột trộn chung với bột mới. Mỗi cối bột được phép cho vào tối đa không quá 5kg mì đã qua hấp. Nếu cho quá lượng này thì chất lượng mì tạo ra không tốt.

6.      Làm nguội
Mục đích: Làm nguội mục đích chính là thổi cho các sợi mì tách hoàn toàn ra khỏi băng tải vì trong quá trình hấp, một số sợi bị hồ hoá dính vào lưới của băng tải. ngoài ra làm nguội còn nhằm mục đích làm ráo nước tự do đọng lại trên bề mặt sợi mì giúp sợi mì hấp thụ nước lèo nhanh và tốt hơn trong giai đoạn tiếp theo.
Các biến đổi chính: Trong giai đoạn này xảy ra hai quá trình chính: sự biến đổi nhiệt độ của mì làm cho sợi mì co lại và sự bay hơi nước ở bề mặt làm cho sợi mì khô hơn. Nhiệt độ mì giảm, bay hơi nước trên bề mặt mì tiếp tục bay hơi kéo theo sự bay hơi một số chất mùi và bề mặt sợi mì se lại. Hơi nước bay hơi làm phá hủy một số mối liên kết và do nhiệt độ giảm nên khả năng hình thành các môi liên kết giảm bề mặt sợi mì đang khô và sẵn sàng nhận thêm nước.
Yêu cầu: Yêu cầu của quá trình làm nguội là sợi mì phải khô ráo, không bị dính vào băng tải.

7.      Cắt định lượng
Mục đích: Quá trình cắt định lượng là cắt băng mì thành từng vắt có kích thước và trọng lượng nhất định để tạo hình cho vắt mì. Đây là một công đoạn rất quan trọng quyết định khối lượng mì thành phẩm sau này.
Vắt mì sau khi cắt định lượng sẽ được gập lại làm đôi với mục đích tạo hình cho sản phẩm rồi chuyễn sang giai đoạn nhúng nước lèo. Tốc độ dao cắt được cài đặt là 50 lần cắt/phút.
Yêu cầu:
·         Đúng khối lượng quy định (tùy theo mỗi loại mì).
·         Dao phải sắc, cắt đứt gọn băng mì.
·         Các vắt mì sau khi cắt phải rời hẳn ra, không bị dính liền với nhau.
·         Vận tốc đều, ổn định, phù hợp tốc độ băng tải lưới hấp.
Các biến đổi: Quá trình biến đổi, chỉ có biến đổi vật lý: băng mì được cắt thành những vắt nhỏ có kích thước đồng đều.

8.      Nhúng nước lèo
Mục đích: lả làm cho các sợi mì tơi ra không dính vào nhau để việc vô khuôn được dễ dàng, đây là mục đích nhằm hòan thiện sản phẩm. Đồng thời, giai đoạn này sẽ làm tăng giá trị dinh dưỡng của sợi mì, tạo ra hương vị đặc trưng cho mì, màu sắc của vắt mì trở nên đẹp hơn, sợi mì không bị chai cứng.
Tùy theo loại mì mà ta có những loại nước lèo khác nhau. Đối với những loại mì rẻ tiền thì nước lèo đơn giản chỉ gồm muối, đường, bột ngọt. Còn những loại mì cao cấp thì có thêm các hương liệu khác để tạo sự đặc trưng cho sản phẩm. Nước lèo được rưới dưới dạng màng mỏng.
Yêu cầu: Yêu cầu của công đoạn này đối với sợi mì là phải thấm đều nước lèo, nếu không sau khi chiên sẽ có màu không đồng nhất, chất lượng không ổn định. Các sợi mì không dính vào nhau, không bị biến dạng.
Các biến đổi xảy ra trong quá trình nhúng nước lèo:
·         Sau khi hấp tinh bột bị duỗi ra nên rất háo nước, do đó dễ dàng kết hợp với nước.
·         Độ ẩm của sợi mì tăng.
·         Hàm lượng chất khô tăng nhưng không đáng kể.

9.      Làm khô
Mục đích: giảm nhanh độ ẩm của sợi mì làm cho sợi mì khô hơn trước khi đưa vào công đoạn chiên, tăng hiệu suất ngấm dầu của sợi mì và giảm thời gian chiên, giảm chi phí nguyên liệu. Đây là giai đọan nhằm mục đích  chuẩn bị.
Các vắt mì được làm khô bằng quạt. các quạt gió chỉ thổi từ trên xuống nên bề mặt của vắt mì khô hơn các phần bên dưới. Tại đây nước lèo sau khi tách ra khỏi vắt mì sẽ được thu và chuyễn sang giai đoạn nhúng nước lèo để tái sử dụng.
Các biến đổi: Ở công đoạn này chỉ có sự giảm độ ẩm của sợi mì, các biến đổi khác xem như không đáng kể.
Yêu cầu: Vắt mì khô ráo.


10.  Vô khuôn
Mục đích: Tạo hình dạng đồng nhất cho vắt mì nhằm chuẩn bị cho giai đọan chiên.
Yêu cầu: Khuôn phải được làm sạch trước khi sử dụng để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm đồng thời khuôn phải được làm bằng thép inox không gỉ. Mì nằm gọn trong khuôn không rơi ra ngoài.
Các biến đổi: Biến đổi vật lý, hình dạng vắt mì thay đổi tùy thuộc vào hình dạng khuôn.
Ở công đoạn này, nước lèo sau khi tách ra khỏi vắt mì sẽ được thu và chuyễn sang giai đoạn nhúng nước lèo để tái sử dụng.

11.   Sữa mì
Mục đích: Tạo sự đồng đều về khoảng cách của các sợi mì làm tăng diện tích tiếp xúc với dầu chiên của các sợi mì. Làm cho các sợi mì nằm gọn trong khuôn tạo tính cảm quan cho vắt mì.
Đối với những dây hiện đại thì quá trình này được máy thực hiện, dây chuyền cũ thì người thực hiện. Còn đối với công ty thì kết hợp cả hai để tạo hiệu suất như mong muốn.
Ở công đoạn này, nước lèo sau khi tách ra khỏi vắt mì sẽ được thu và chuyễn sang giai đoạn nhúng nước lèo để tái sử dụng.

12.  Chiên
Quá trình chiên khác so với các quá trình nhiệt khác ở chỗ: quá trình chiên diễn ra trong thời gian ngắn trong vòng khoảng 5 phút do sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa dầu chiên và thực phẩm, kích thước của mì đem chiên nhỏ. Dầu chiên sẽ trở thành thành phần trong sản phẩm. Sản phẩm chiên thường giòn hơn các loại sản phẩm khác. Phương tiện truyền nhiệt sẽ thay đổi thành phần, tính chất  trong suốt quá trình chiên
Mục đích: Chiên là làm giảm độ ẩm của sợi mì, thay thế một phần béo để làm tăng giá trị dinh dưỡng của mì. Tạo thêm mùi, vị, màu sắc hấp dẫn cho sợi mì và vắt mì, làm chín giòn sợi mì. Do quá trình chiên tiến hành ở nhiệt độ cao, hầu hết các loại vi sinh vật đều bị tiêu diệt, các loại enzyme bị vô hoạt.
Trước khi chiên, dầu được làm nóng và tan chảy ra. Chảo dầu có chứa khoảng 4000 lít dầu sau khi được gia nhiệt thì cho thêm 330g chất chống oxy hóa BHT nhằm ngăn chặn sự oxy hóa của dầu chiên tạo các chất độc hại. Nhiệt độ dầu chiên trong chảo được chia làm 3 vùng: vùng đầu, giữa và cuối tương ứng với 152oC, 175 oC và 178 oC. Mì được chiên với thời gian 2 – 2 phút 30 giây. Trong quá trình chiên, dầu sẽ thay thế chỗ của nước, độ ẩm cuối cùng trong mì đã chiên là 3 ÷ 4%, nếu độ ẩm lớn hơn 5% sẽ làm cho sản phẩm dai và làm giảm thời gian sử dụng của sản phẩm.
Dầu trước khi chiên sẽ được kiểm tra chỉ số axit và chỉ số peroxit. Nếu chỉ số này vượt quá mức cho phép dầu sẽ bị đổ bỏ. Dầu chiên luôn được châm vào liên tục trong quá trình chiên để giảm chỉ số axit, peroxit và đảm bảo không thiếu dầu khi chiên làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Sau mỗi ca làm việc dầu sẽ được lọc để tách cặn sau đó mới bàn giao cho ca sau.
Yêu cầu kỹ thuật:
·         Dầu shortening mới, trắng ngà đồng nhất, không tạp chất.
·         Dấu shortening cũ và dầu trong chảo màu sáng, không mùi gắt, chỉ số acit và peroxit không quá 0,5.
·         Nhiệt độ chiên từ 150 – 180oC.
·         Chất chống oxy hóa sử dụng đúng công thức.
·         Mì sau khi chiên phải có màu vàng đều, không đốm sống, nguyên vẹn không vỡ, gãy, hình dáng đẹp, bông đều.










Share on Google Plus

About Unknown

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét