HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG THEO ISO 14000 VÀ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM/ PHẦN 3





Trang blog này được lập bởi chủ Quán BỌT TRÁI CÂY với mục đích chia sẻ tài liệu về công nghệ thực phẩm cho các bạn cùng khoa cũng như các anh, chị, em và các bạn yêu thích, quan tâm hay tìm kiếm tài liệu về công nghệ thực phẩm.

NẾU THẤY TÀI LIỆU CÓ ÍCH, MỜI CÁC BẠN ĐẾN VÀ ỦNG HỘ QUÁN BỌT TRÁI CÂY ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ THÊM KINH PHÍ DUY TRÌ HOẠT ĐỘNG ĐĂNG TẢI TÀI LIỆU CHO MỌI NGƯỜI!
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

            Quán Bọt Trái Cây
Địa chỉ: 88/955E Lê Đức Thọ, P.6, Gò Vấp, TP.HCM
Hotline: 0935.355.169
Mail: bottraicay@gmail.com
Web: http://bottraicay.blogspot.com/



Xem bản đồ đường đi clik vào đây


2.2 Ở Thừa Thiên Huế:
CÔNG TY XI MĂNG LUKS
Đáng kể nhất trong Thập niên Chất lượng lần thứ Nhất ở Thừa Thiên -  Huế là việc xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong các doanh nghiệp. Trước năm 1996, Thừa Thiên - Huế chưa có doanh nghiệp nào áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, từ khi phát động Thập niên Chất lượng đến nay đã có 11 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ và 5 doanh nghiệp đang trong giai đoạn áp dụng. Trong đó có Công ty Hữu hạn LUKS Việt Nam được cấp 3 chứng chỉ (ISO 9001:2000, ISO 14000, OHSAS). Công ty hữu hạn xi măng Luks (Việt Nam) thuộc Tập đoàn Luks ở Hồng Kông, 100% vốn nước ngoài do được chuyển đổi từ Công ty hữu hạn Luks xi măng Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên sau 1 thời gian hoạt động công ty ximăng Luks  đã vi phạm bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn ISO 14000.
Ngày 22-7-2011, ông Nguyễn Hữu Quyết, phó giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường Thừa Thiên - Huế, cho biết đoàn kiểm tra liên ngành vừa hoàn thành công tác kiểm tra về “hoạt động bảo vệ môi trường” của Công ty hữu hạn ximăng Luks (Việt Nam).
Cuộc kiểm tra này xuất phát từ hàng chục lá đơn kêu cứu và liên tục các cuộc bao vây phản đối của các hộ dân sống xung quanh nhà máy ximăng của công ty này đặt tại xã Hương Văn, huyện Hương Trà, Thừa Thiên - Huế.
   ‘Ngày 21-11-2010, hàng trăm người dân hai xã Hương Vân, Hương Văn bao vây, ngăn chặn công nhân đến làm tại Nhà máy ximăng Luks để phản đối nhà máy xả bụi gây ô nhiễm nặng.”
       Theo kết luận của đoàn kiểm tra liên ngành, trong quá trình sản xuất kinh doanh, Công ty hữu hạn ximăng Luks (100% vốn của Hong Kong) có hàng loạt sai phạm về bảo vệ môi trường. Cứ thể, các hệ thống xử lý bụi, khí thải và nước thải công nghiệp của nhà máy chưa thực hiện đúng theo cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Dây chuyền công nghệ có nhiều đoạn bị hở khiến lượng lớn bụi phát tán ra ngoài làm ảnh hưởng đến sức khỏe dân cư sống xung quanh nhà máy, trong khi nhà máy chưa có phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây ô nhiễm môi trường.
Hệ thống xử lý tiếng ồn dây chuyền số 4 của nhà máy không đảm bảo, từ 21g đến 6g tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nước thải công nghiệp chưa đạt yêu cầu về vi sinh (cao gấp 3 lần tiêu chuẩn cho phép) cũng được xả ra môi trường. Các công trình xử lý nước thải, xử lý bụi và khí thải đều xây dựng sai thiết kế kỹ thuật, đồng thời tự ý đưa vào sử dụng khi chưa được các cơ quan chuyên môn thẩm định đồng ý.
Ngoài ra, công ty này còn chuyển giao chất thải nguy hại cho nhiều tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện quản lý, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại theo quy định. Công nhân phải làm việc trong môi trường có hàm lượng bụi và tiếng ồn vượt quy định cho phép khá cao, trong khi họ không được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại.
Công ty cũng chưa lập hồ sơ bệnh nghề nghiệp cho công nhân để hưởng các chế độ. khoảng 780 người lao động chưa được cấp thẻ an toàn lao động theo quy định.
Kết quả kiểm tra còn cho thấy từ năm 2006-2010, người dân vùng phụ cận Nhà máy ximăng Luks và mỏ đá Văn Xá có tỉ lệ người bị bệnh liên quan đến bụi rất cao. Trong đó có 4.229 người mắc bệnh viêm phổi, viêm phế quản, hen phế quản; 15.860 người bị bệnh mũi họng và gần 4.000 người mắc các bệnh về da.
Trong hai năm 2009-2010, nhiều lần người dân hai xã Hương Văn và Hương Vân đã kéo đến chặn xe, bao vây Nhà máy ximăng Luks để phản đối việc công ty gây ô nhiễm môi trường. Trong đó có chín vụ khiếu kiện tập thể phản đối công ty gây tiếng ồn, xả bụi gây ô nhiễm và yêu cầu đền bù, hỗ trợ thiệt hại hoa màu và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người dân bị ảnh hưởng.
Theo thống kê của UBND huyện Hương Trà, hiện có 365 hộ dân thuộc xã Hương Văn, Hương Vân, thị trấn Tứ Hạ nằm trong khoảng cách không an toàn do hoạt động sản xuất của Nhà máy ximăng Luks, buộc phải di dời, tái định cư.
Công ty hữu hạn Xi măng Luks vi phạm bảo vệ môi trường, đó là kết luận của đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Thừa Thiên-Huế do ông Nguyễn Hữu Quyết - Phó giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường, Trưởng đoàn kiểm tra - công bố mới đây sau nhiều năm liên tục DN này bị người dân huyện Hương Trà khiếu nại vì tình trạng ô nhiễm, bụi, khói, tiếng ồn.
Công ty Luks (doanh nghiệp 100% vốn của Hồng Kông) hoạt động tại thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) với 4 dây chuyền sản xuất xi măng, công suất thiết kế 1,4 triệu tấn sản phẩm/năm, đã sử dụng công nghệ lò quay của Trung Quốc thuộc nhóm công nghệ trung bình và khá lạc hậu.
Từ một DN liên doanh với Nhà nước (tỉ lệ 50-50), cuối năm 2005, sau khi tỉnh Thừa Thiên-Huế giao lại toàn bộ nhà máy cho phía Tập đoàn Luks, công suất từ 750 nghìn tấn được nâng lên 1,2 triệu tấn/năm, rồi 1,4 triệu tấn/năm với 4 dây chuyền hoạt động ngày, đêm. Chính việc đầu tư mở rộng ồ ạt, không định hướng trước về mặt bằng sản xuất… nên các hệ thống xử lý bụi và khí thải của nhà máy xây dựng không đồng bộ, ảnh hưởng đến môi trường sống của nhân dân trong khu vực.
Trong quá trình sản xuất - kinh doanh, công ty vi phạm hàng loạt sai phạm về bảo vệ môi trường. Cụ thể, các hệ thống xử lý bụi, khí thải và nước thải công nghiệp của nhà máy chưa thực hiện đúng theo cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường; dây chuyền công nghệ có nhiều đoạn bị hở khiến lượng lớn bụi phát tán ra ngoài làm ảnh hưởng đến sức khỏe dân cư sống xung quanh nhà máy; hệ thống xử lý tiếng ồn dây chuyền số 4 không đảm bảo; nước thải công nghiệp cao gấp 3 lần tiêu chuẩn cho phép; các công trình xử lý nước thải, xử lý bụi và khí thải đều xây dựng sai thiết kế kỹ thuật, tự ý đưa vào sử dụng khi chưa được các cơ quan chuyên môn thẩm định, đồng ý.
...Đến thải trộm, bán chất thải nguy hại
Việc ô nhiễm môi trường, nguồn nước… đã khiến hàng trăm hộ dân các xã xung quanh nhà máy như Hương Văn, Hương Vân, thị trấn Tứ Hạ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Để giải quyết tình trạng trên, tỉnh ủy, UBND tỉnh TT- Huế, UBND huyện Hương Trà đã nhiều lần yêu cầu nhà máy phải vận hành hệ thống lọc bụi tĩnh điện thường xuyên, hỗ trợ người dân mua bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh… Thế nhưng, nhà máy lại đối phó bằng cách lén xả bụi vào những thời điểm trời mưa và ban đêm. Chị Nguyễn Thị Phượng (thôn Giáp Tây) cho biết: Nhiều đêm, do ồn quá tôi không ngủ được, ra ngoài thấy nhà máy xả bụi mù trời. Thời điểm thải khói bụi khoảng từ 21 giờ đến 2 giờ sáng.
Không những thải trộm, công ty còn chuyển giao chất thải nguy hại cho nhiều tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện quản lý, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại. Công nhân phải làm việc trong môi trường có hàm lượng bụi và tiếng ồn vượt quy định cho phép khá cao, trong khi họ không được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại. Công ty cũng chưa lập hồ sơ bệnh nghề nghiệp cho công nhân để hưởng các chế độ. Kết quả kiểm tra cho thấy, từ năm 2006 - 2010, tỉ lệ người mắc bệnh viêm phổi, viêm phế quản, hen, mũi họng và các bệnh về da của người dân vùng phụ cận nhà máy xi măng Luks và mỏ đá Văn Xá... rất cao.
NHÀ HÀNG ANCIENT HUẾ:
Vừa qua thanh tra Sở TN & MT tỉnh TT-Huế vừa ra quyết định xử phạt hành chính công ty Huế cổ - kinh doanh dịch vụ du lịch cao cấp về hành vi gây ô nhiễm môi trường vì việc nhà hàng 5 sao của đơn vị này xả thải ra sông lấp Phú Mộng, vi phạm luật bảo vệ môi trường ISO 1400:
Cụ thể, Nhà hàng Ancient Huế - chuyên cung cấp dịch vụ ăn uống theo tiêu chuẩn 5 sao (phường Kim Long, TP Huế) thuộc Công ty TNHH Thương Mại Huế cổ đã không thực hiện nội dung trong Đề án bảo vệ môi trường, không xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

Được biết, trong năm 2008 và 2009, UBND phường Kim Long (TP Huế) đã nhiều lần kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường của công ty này như: không có kế hoạch xử lý rác thải, xả nước thải trực tiếp ra sông lấp Phú Mộng…

Thanh tra Sở TN & MT đã phạt hành chính Công ty này 12 triệu đồng về hành vi gây ô nhiễm môi trường; đồng thời đề nghị công ty phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải trong thời gian 60 ngày kể từ ngày bị xử phạt, thực hiện quản lý chất thải nguy hại theo đúng quy định của pháp luật.
Nhà hàng du lịch cao cấp Ancient Huế thuộc Công ty TNHH Thương mại Huế cổ đã bị xử phạt vì không xây dựng hệ thống xử lý nước thải
Cũng tại Nhà hàng Ancient Huế vào tháng 3/2011, gần 70 nhân viên đã đình công về việc công ty trả lương quá chậm và quản lý lao động và chế độ chính sách không tốt dẫn đến đời sống nhân viên không đảm bảo.




CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ, GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN ISO 14000 CỦA CÁC TỔ CHỨC/DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1. Đánh giá:
1.1 Kết quả đạt được:
Tại Việt Nam, chứng chỉ ISO 14001:1996 đã được cấp lần đầu tiên vào năm 1998 (2 năm sau khi tiêu chuẩn ISO 14001:1996 ra đời) và từ đó đến nay, số lượng tổ chức áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 và đạt chứng chỉ không ngừng tăng lên. Thời gian đầu, các công ty tại Việt Nam áp dụng ISO 14001 hầu hết là các công ty nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, đặc biệt là với Nhật Bản. Điều này cũng dễ hiểu vì Nhật Bản luôn là nước đi đầu trong bảo vệ môi trường và áp dụng ISO 14001. Mặt khác Nhật Bản cũng là một trong các quốc gia đầu tư vào Việt Nam rất sớm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Hiện có rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, có thể kể đến một số tập đoàn lớn như Honda, Toyota, Panasonic, Canon, Yamaha…Hầu hết công ty mẹ của các tổ chức này đều đã áp dụng ISO 14001 và họ yêu cầu các công ty con tại các quốc gia đều phải xây dựng và áp dụng ISO 14001. Bởi vậy, các doanh nghiệp này cũng đã góp phần rất lớn trong việc xây dựng trào lưu áp dụng ISO 14001 tại Việt Nam.


Cùng với việc gia tăng số lượng các tổ chức/doanh nghiệp có nhân tố nước ngoài áp dụng ISO 14001, các tổ chức trong nước cũng đã nhận thức được tầm quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường và họ cũng đã có những chiến lược trong việc áp dụng ISO 14001. Hầu hết các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty xi măng như Xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Hoàng Mai… cũng đều đã, đang và trong quá trình xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001. Gần đây, một loạt khách sạn thành viên thuộc Tập đoàn Saigon Tourist cũng đã được chứng nhận ISO 14001.
Tại Việt Nam hiện nay, chứng chỉ ISO 14001 cũng đã được cấp cho khá nhiều tổ chức với các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ khá đa dạng, trong đó các ngành nghề như Chế biến thực phẩm (mía đường, thủy sản, rượu bia giải khát…), Điện tử, Hóa chất (dầu khí, sơn, bảo vệ thực vật), Vật liệu xây dựng, Du lịch-Khách sạn đang chiếm tỷ lệ lớn.
Tuy nhiên, so với số lượng khoảng 6.000 doanh nghiệp đã được chứng nhận về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 thì số lượng các doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn về quản lý môi trường còn rất nhỏ bé. Điều này cho thấy tại Việt Nam, các doanh nghiệp/tổ chức vẫn chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường.
1.2 Thuận lợi, khó khăn:
1.2.1 Thuận lợi:
Luật pháp về môi trường chặt chẽ hơn
Chúng ta đều biết, tiêu chuẩn ISO 14001 không đưa ra những quy định hay tiêu chí cụ thể về môi trường mà chỉ đề ra các nguyên tắc trong công tác quản lý, và một trong những nguyên tắc quan trọng là doanh nghiệp/tổ chức phải “phù hợp với các yêu cầu pháp quy sở tại”. Bởi vậy tính đầy đủ, dễ hiểu và khả thi của hệ thống văn bản pháp quy về môi trường là rất cần thiết để nguyên tắc này có thể được thực hiện. Trong thời gian vừa qua, mặc dù bảo vệ môi trường là một vấn đề còn mới nhưng các văn bản có liên quan đến bảo vệ môi trường cho thấy vấn đề bảo vệ môi trường đã từng bước được hoàn chỉnh và khẳng định là một vấn đề hệ trọng và ngày càng được quan tâm, được thể chế hoá vào hầu hết các ngành luật. Tuy còn dừng ở mức độ này hay mức độ khác nhưng các văn bản quy phạm pháp luật đó đã có tác dụng to lớn trong công tác bảo vệ môi trường, góp phần đáng kể trong việc cải thiện môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, trong quản lý nhà nước về môi trường.
Hệ thống pháp luật quy định về bảo vệ môi trường ở nước ta từ năm 1993 đến nay đã phát triển cả nội dung lẫn hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các yếu tố tạo thành môi trường. Tỷ lệ thuận với tốc độ xuống cấp của môi trường, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã tăng nhanh chóng. Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã quy định từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường. Hệ thống tiêu chuẩn về môi trường cũng đã được ban hành, làm cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể trong việc bảo vệ môi trường. Các quy định pháp luật đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường.
Sức ép từ các công ty đa quốc gia
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, hiện có nhiều công ty đa quốc gia đã có mặt tại Việt Nam và Việt Nam được coi là nơi đầu tư hấp dẫn trong khu vực dưới con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù năm 2008 được coi là năm rất khó khăn đối với kinh tế Việt Nam nhưng trong 8 tháng đầu năm 2008, lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam vẫn đứng ở mức kỷ lục là 48 tỷ USD. Việc gia tăng số lượng các doanh nghiệp nước ngoài làm ăn tại Việt Nam kéo theo đó là các yêu cầu ngày càng gia tăng về tay nghề công nhân, trình độ chuyên môn hóa, yêu cầu về chất lượng, môi trường và trách nhiệm xã hội. Đó là thách thức nhưng cũng là cơ hội để các tổ chức/doanh nghiệp trong nước cần tự hoàn thiện mình để có thể hòa nhập được vào sân chơi chung.
Hiện có những tập đoàn đa quốc gia yêu cầu các nhà cung cấp/nhà thầu của mình phải đảm bảo vấn đề môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, và chứng chỉ ISO 14001 như sự bảo đảm cho các yếu tố đó. Honda Việt Nam là một trong các công ty của Nhật Bản đã áp dụng hệ thống QLMT theo tiêu chuẩn ISO 14001, tiếp sau đó là một loạt các nhà cung cấp phụ kiện như Goshi Thăng Long, Nissin Brake, Tsukuba, Stanley… cũng áp dụng ISO 14001. Những hoạt động như vậy đã tạo ra một trào lưu giúp nhân rộng mô hình. Trào lưu này bắt đầu xuất hiện phần lớn từ các công ty nước ngoài, liên doanh, sau đó mở rộng ra các đối tượng là tổ chức/doanh nghiệp Việt Nam.
Sự quan tâm của cộng đồng
Sự quan tâm của nhà nước, cơ quan quản lý và cộng đồng đối với việc áp dụng ISO 14001 cũng ngày càng gia tăng. Trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng năm 2020 cũng chỉ rõ “mục tiêu đến năm 2010: 50% các cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc chứng chỉ ISO 14001”, định hướng tới năm 2020 “80% các cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc chứng chỉ ISO 14001”. Điều này đã thể hiện sự quan tâm của Chính phủ trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và ISO 14001 nói riêng. Định hướng này cũng sẽ tạo tiền đề cho các Cấp, các Ngành, các Địa phương xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường cho mình để từ đó thúc đẩy việc áp dụng ISO 14001 trên phạm vi toàn quốc.
Thời gian vừa qua, một loạt hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của các tổ chức, doanh nghiệp cũng đã bị người dân, báo chí và các cơ quan chức năng phát hiện, thậm chí có doanh nghiệp đã phải tạm thời đóng cửa. Điều này cũng đã thể hiện một mức độ quan tâm đặc biệt lớn từ phía cộng đồng.



1.2.2 Khó khăn:
Chính sách, cơ chế của nhà nước không nhất quán và thiếu công bằng:
Mặc dù có sự quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường nhưng cho tới nay, Nhà nước chưa có chính sách cụ thể và nhất quán để hỗ trợ/ ưu đãi các doanh nghiệp trong nước áp dụng hệ thống QLMT theo tiêu chuẩn ISO 14001 mà chủ yếu do áp lực từ phía khách hàng. Ngược lại mong thu hút đầu tư, nhà nước lại lới lỏng quản lý môi trường với các doanh nghiệp FDI nước ngoài, đặc biệt là công tác thực thi yêu cầu pháp luật trong bảo vệ môi trường còn thiếu hiệu quả, dẫn tới nản lòng và thiệt thòi cho những tổ chức quan tâm và đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường.
Doanh nghiệp nước ngoài áp dụng ISO 14001 nhiều hơn là do đáp ứng yêu cầu của khách hàng và chuỗi cung ứng và văn hóa tập đoàn và cũng không xuất phát từ ý thức đầu tư để bảo vệ môi trường nước sở tại. Do đó việc áp dụng ISO 14000 nhiều khi còn mang tính hình thức và đối phó. VD, Vedan “giết” sông Thị Vải do xả nước chưa qua xử lý nhưng thực tế Vedan vẫn có chứng chỉ ISO 14001.

Tốn kém trong đầu tư cải thiện và duy trì cơ sở vật chất, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Khoản đầu tư cải thiện cơ sở vật chất lớn cũng là một trở ngại thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng ISO 14001. Muốn thực hiện ISO 14001, cần có những điều kiện tối thiểu: cơ sở hạ tầng đáp ứng các yêu cầu để đảm bảo công tác quan trắc môi trường đạt yêu cầu. Cân đối với lợi nhuận ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay thì khoản đầu tư này là một thách thức không nhỏ, do đó xuất hiện tình trạng nếu không thật sự cần thiết (không có yêu cầu của khách hàng, để ký kết hợp đồng…) thì có doanh nghiệp trong nước không áp dụng ISO 14001 để tránh những khoản đầu tư nhất định.
Ngoài ra, không kể đến chi phí cho việc vận hành của các hệ thống xử lý nước thải, khí thải và bồi dưỡng nguồn nhân lực cũng gân không ít tốn kém cho doanh nghiệp trong quá trình duy trì. Đây cũng là nguyên nhân khiến một số doanh nghiệp mặc dù có hệ thống xử lý nước thải, khí thải nhưng không vận hành thường xuyên mà chỉ vận hành khi có đợt kiểm tra của cơ quan chức năng. Tung Twang (Hải Dương) là một VD điển hình.

Chính sách môi trường mờ nhạt, không ăn nhập với chính sách phát triển dài hạn của doanh nghiệp
Một trong những yếu điểm dễ thấy của doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề hoạch đinh, định hướng, việc định hướng pháp triển chung của doanh nghiệp còn yếu kém thì việc định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường còn mờ nhạt hơn nữa.
Việc xây dựng chính sách môi trường đến nay vẫn rất hình thức và chung chung, đôi khi sử dụng luôn ý tưởng của chuyên gia tư vấn khiến cho chính sách môi trường không nhất quán với chính sách phát triển dài hạn của doanh nghiệp. Có nhiều tổ chức áp dụng ISO 14001 nhưng cán bộ và công nhân không hiểu thậm chí không biết đến chính sách môi trường thì không thể phát huy được sự tham gia của mọi người trong công ty trong công tác bảo vệ môi trường.
Mục tiêu phát triển chung một đằng, mục tiêu môi trường một nẻo
Khi lựa chọn và đưa ra các mục tiêu môi trường liên quan tới yếu tố môi trường quan trọng, tổ chức phải có trách nhiệm đảm bảo các mục tiêu này sẽ được thực hiện, qua đó giảm thiểu tác động và hoạt động quản lý môi trường của tổ chức sẽ dần được hoàn thiện.
Tương tự như với chính sách môi trường, xác định mục tiêu một cách phù hợp, hiệu quả, vừa gắn kết với mục tiêu phát triển chung vừa nhất quán với chính sách môi trường lại là vấn đề nhiều tổ chức còn yếu.
VD: được sự hướng dẫn của chuyên gia tư vấn, sau một năm, doanh nghiệp đã đạt được mục tiêu môi trường đề ra năm đầu tiên, nhưng năm tiếp theo tư vấn đã rút đi, doanh nghiệp lại loay hoay không biết lựa chọn mục tiêu môi trường nào, hoặc lựa chọn mục tiêu môi trường không khả thi (khó thực hiện hoặc tốn nguồn lực) hoặc không nhất quán với chính sách môi trường đề ra.
 Hiệu quả công tác đánh giá nội bộ chưa cao
Đánh giá nội bộ là một hoạt động quan trọng, cần được triển khai định kỳ nhằm xác định hiệu lực cũng như tìm ra các cơ hội để cải tiến hiệu quả của hệ thống Quản lý. Tuy quan trọng như vậy nhưng hiện nay, hoạt động đánh giá nội bộ cũng là yếu điểm của các doanh nghiệp. Một số nguyên nhân thường gặp:
·                 Sự quan tâm của lãnh đạo chưa thực sự đầy đủ và sâu sát,
·                           Không được hoặc không biết cách xây dựng chương trình đánh giá nội bộ                    hiệu quả,
·                           Năng lực của đánh giá viên nội bộ không đáp ứng,
·                           Tâm lý cả nể trong quá trình đánh giá và lập báo cáo đánh giá,
·                           Đánh giá nội bộ mang tính hình thức, lấy lệ để có hồ sơ,
  Vì vậy các phát hiện trong đánh giá nội bộ đôi khi chưa mang lại giá trị thực sự cho việc cải tiến công tác bảo vệ môi trường.
2. Giải pháp:
2.1 Về  phía Nhà nước:
Do các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vừa và nhỏ nên nhà nước cần tạo điều kiện, khuyến khích việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 1400 tại các doanh nghiệp này bằng việc cung cấp tài liệu hướng dẫn, lên kế hoạch huấn luyện đào tạo các kiến thức về việc áp dụng bộ tiêu chuẩn.
Nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực chuyên môn về môi trường. Nên thành lập một cơ quan nhà nước chuyên trách có thể kiểm tra việc tuân thủ và hỗ trợ cho doanh nghiệp khi áp dụng ISO 14000
Hỗ trợ vốn để khuyến khích cho các doanh nghiệp nhanh chóng thực hiện dự án.
ví dụ 8-2009, UBND thành phố Hà Nội đã quyết định hỗ trợ từ 60-80 trệu đồng cho những doanh nghiêp sx sạch bằng cách áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000
2.2 Về phía doanh nghiệp:
Tìm hiểu kỹ trước khi lựa chọn đối tác tư vấn, đặc biệt là những cam kết và phương pháp tiếp cận thực hiện dự án tư vấn để đảm bảo sao cho sau khi chuyên gia tư vấn đã rút đi, doanh nghiệp và các nhân sự chủ chốt có đủ năng lực để tự duy trì phát triển được hệ thống QLMT đã được xây dựng.
Cập nhật liên tục những yêu cầu pháp luật mới được ban hành như: các thông tư, nghị định của địa phương hoặc của chính phủ ban hành.
Nâng cao nhận thức cho cán bộ công nhân viên trong toàn công ty bằng cách  tổ chức các khóa đào tạo nhận thức về quản lý môi trường. Cử nhân viên tham gia các khóa đào tạo về môi trường do các tổ chức giảng dạy.
Xây dựng hệ thống giám sát để kiểm soát toàn bộ hoạt động quản lý môi trường
Mời các chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm, am hiểu luật định, các thông tư, hướng dẫn có liên quan đến môi trường.
Lắng nghe những phản hồi từ cộng đồng xung quanh để kịp thời điều chỉnh.

Lãnh đạo phải xem xét lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài của doanh nghiệp khi có những tác động trực tiếp ảnh hưởng tới môi trường. Phải quan tâm và có những chỉ đạo kịp thời để đảm bảo hệ thống quản lý môi trường vận hành một cách hiệu quả.              
Share on Google Plus

About Unknown

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét